Đi về nơi hoang dă
 

NHẬT TUẤN


Thay lời nói đầu...


Vào dịp Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 6 năm 1995, trả lời phỏng vấn đài RFI về văn học Việt Nam thời đổi mới, nhà văn Nhật Tuấn đă phát biểu: “Mấy năm 1987-1991 là thời ḥang kim cuả tiểu thuyết Việt Nam. Thời đó giống như có một đứt găy của lịch sử, khiến cho văn chương trong nước trào ra như ḍng phún xuất thạch, hoặc nói theo ngôn ngữ đá banh, lúc đó trọng tài đang mải căi nhau về luật bóng đá, tranh thủ thời cơ đó, các nhà văn tới tấp dẫn bóng lên làm bàn. “Những thiên đường mù” của Dương Thu Hương, “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma văn Kháng, “Thời xa vắng” của Lê Lựu, “Nỗi buồn chiến tranh “ của Bảo Ninh... và cuốn sách đang trong tay quư vị: “Đi về nơi hoang dă” của Nhật Tuấn là những trái bóng sút tung lưới đó. Tuy nhiên, khác với những cuốn kể trên đuợc làm rùm beng, báo chí đua nhau lăng xê, cuốn của Nhật Tuấn cứ lặng lẽ đi vào nguời đọc và lặng lẽ rơi vào im lặng. V́ sao vậy? Co ùlẽ nhà văn Trần Thanh Giao ở trong nước đă nói được đúng t́nh thế lúc đó: “Khen cuốn Đi về nơi hoang dă th́ là dại, chê th́ lại là ngu. Tốt hơn hết cứ nói là... chưa xem...”. Và thế là cả các nhà văn, các nhà phê b́nh, các nhà báo văn hóa văn nghệ đều chưa.... đọc như thế. Tại sao nguời ta “ngại” cuốn sách này đến thế? Chống Đảng, nói xấu lănh tụ, chia rẽ dân tộc chăng? Chả phải! Biểu tượng hai mặt, muợn xưa nói nay, mượn súc vật xỏ xiên con người chăng? Cũng chả phải! Phân tích ra th́ chẳng có tội ǵ mà ngại, nhưng càng đọc càng cứ... tức anh áchø. Tại sao thế nhỉ? Ở những cuốn tiểu thuyết mang màu sắc phản kháng khác (Những thiên đường mù, Thời xa vắng, Ly thân...) các tác giả c̣n muốn tranh căi, muốn triết luận với chủ nghĩa xă hội quanh các vấn đề cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp, ḥa b́nh và chiến tranh....”Đi về nơi hoang dă “ th́ không - nó không đối diện, không hội luận, không trao đổi ǵ hết, nó cũng chẳng buồn nhắc tới cái chủ nghĩa ấy tới một lời - nó chỉ mô tả cuộc đời của những con người tiêu biểu ở trong đó, mô tả, miệt mài mô tả mà thôi. Hại thay, khi mô tả con người với với tấm ḷng yêu thương th́ tác giả lại tỏ ra khinh miệt, quay lưng không muốn tranh căi, “không đáng để nói tới” những thế lực đă gây nên sự đày ải con người một cách kinh khiếp đến như thế.
Năm con nguời bị đẩy vào miền hoang dă với nhiệm vụ chính trị cao nhất là t́m một con đường trên núi cao được vạch sẵn do Ban chỉ huy nằm ở măi dưới đồng bằng và truyền lệnh hàng ngày qua cái máy vô tuyến điện. Cho dù ngay trên đường đi, vấp phải vách đá dài dằng dặc, con đường trên núi ngày càng tỏ ra được thiết kế sai tóet ṭe loe, nhưng mọi ngựi vẫn phải: “tuyệt đối tin tưởng ở cấp trên, thực địa có thể khác với bản thiết kế con đường, nhưng Ban chỉ huy không bao giờ sai...”. Vậy nhưng rồi tới cái ngày ngay cả ông tóan trưởng là nguời lănh đạo cái đ̣an người đi trên núi này rồi cũng đă trắng mắt, cay đắng nhận ra rằng Ban chỉ huy đă sai trong chỉ đường vạch lối, vậy nhưng ông vẫn phải nhắm mắt tuân theo “mệnh lệïnh là mệnh lệnh, tuyệt đối phải chấp hành, nhiệm vụ chính trị cao nhất của chúng ta trong lúc này là đi tới, đi tới....”, nhưng mà đi tới... đâu, đi tới cái đỉnh Hua Ca chỉ có trong tưởng tượng bằng bất cứ giá nào. Vậy là đă thành một chân lư “Ban chỉ huy không bao giờ sai”, đừng có tranh căi, triết luận, hội thảo hội thiếc ǵ với cấp trên hết, nếu không th́ sẽ thành thằng “phản động “ “Anh dám nói cấp trên là mù quáng hả? Anh quên mất phải tin tưởng tuyệt đối ở ban chỉ huy hả? Anh đứng trên lập trường giai cấp nào mà phát biểu vô tổ chức, vô kỷ luật vậy? “Một khi vấn đề đă được đặt ra theo kiểu vậy th́ “thua” rồi, cho dù có tuyên ngôn, hội thảo, hiến chương, “kết nối” ǵ cũng vô ích. Cả 5 con người đi trong đ̣an người thôi không c̣n tranh căi, không c̣n dùng ngôn từ để “nghị luận” với cấp trên nữa, họ im lặng, im lặng nhưng không buông xuôi, họ triết luận với các lư thuyết gia của con đường, với ban chỉ huy bằng chính... cuộc đời thê thiết của họ.
Trước hết là ông tóan trưởng, “suốt ngày câm nín như một con cóc cụ buồn rầu”, khổ hạnh hơn nhà tu, cứng nhắêc như nhà giáo điều, khiến lính của ông phải kháo nhau: “Tao nghi lăo ấy không có “cặc” quá, chỉ không có cái đó mới sống được như lăo”. Niềm vui duy nhất trong ngày của ông là đến tối đánh điện về Ban chỉ huy báo thành tích công tác trong ngày: đi thêm được mấy ngàn mét, bao nhiêu người tập thể dục, bao nhiêu người phát biểu trong các cuộc họp. Miệng ông luôn luôn nhắc nhở “ḿnh v́ mọi nguời” nhưng lại dấu diếm mỳ chính, thịt hộp trong ba lô để lén lút ăn riêng. Ông luôn đề cao đạo đức nhưng lại hủ hoá với bà Trưởng pḥng, rồi bỏ mặc bà với đứa con nơi công trường lạnh lẽo. Loại người như ông toán trưởng nhan nhản một thời làm nên cái gọi là...”văn minh cán bộ” trong thời kỳ kinh tế bao cấp ở miền Bắc, một thời đă gây nên bao phiền tạp trong đời sống người dân. Vậy nhưng đừng tưởng tác giả sẽ mạt sát, khinh ghét, bôi xấu loại nhân vật đó, ngược hẳn lại, ông toán trưởng vẫn đuợc khắc hoạ với nét bút cảm thông và cái phần “t́nh người “ của ông vẫn c̣n lặn vào sâu và bột phát ra mạnh mẽ khi ông đối diện với cái chết.
Người theo sau ông toán trưởng, nối tiếp được thế hệ cha anh chính là thằng “học giả”. Thằng này vốn là con nhà tư sản, trước cách mạng là một thanh niên có hoài băo, mong muốn xây dựng sự nghiệp mà chưa biết đó là cái “sự nghiệp ǵ”. Khi Đảng, chính phủ giải phóng HàøNội th́ nó biết rồi, và nó bắt đầu xây dựng cái sự nghiệp ấy bằng cách tố cáo bố nó với đội cải tạo để đến nỗi ông phải thắt cổ tự tử. Không sao cả, mang mặc cảm giết cha và đẩy mẹ tới chỗ đi tu, thằng học giả vẫn c̣n tự tin, vẫn c̣n đứng vững được ở trong cuộc đời bởi lẽ nó c̣n có t́nh yêu của nàng búp bê, trụ đỡ tinh thần cho nó trong “cuộc sống dưới cấp con người” này. Ấy thế rồi đùng cái, nàng búp bê bỏ nó đi lấy chồng sau khi gửi cho nó mấy câu thơ riễu cợt lư tưởng của nó:
“ Nếu hoài trên đỉnh Phăng xi păng...
Anh chỉ hát trong mây mù huyền diệu...”
Vâng, nếu như thế th́ em xin bye bye, em đi lấy chồng. Cái cú “sét giữa trời quang “ này làm thằng học giả “bừng tỉnh” cơn mơ mộng hăo huyền, nó ngộ ngay ra một chân lư bốc mùi cơ hội là muốn vượt lên để mà tồn tại trong xă hội này nó buộc phải đểu cáng, phải giả dối, phải lưu manh, phải dẫm lên đồng đội, giành giật quyền lợi về ḿnh, và thế là từ đó vĩnh biệt cái thân phận:
“ ngó tới tương lai trào nước mắt
ngoảnh nh́n quá khứ toát mồ hôi...”
thằng học giả tự biến thành con nguời khác, tách khỏi đồng đội, bám theo đít ông toán truởng, hầu hạ nịnh nọt một cách đê hèn để được ông bàn giao cho quyền lực và đi xa hơn thế nữa, hắn bắt đầu nói năng, suy nghĩ, hành động y như cung cách của Ban chỉ huy vậy. Qua h́nh tượng thằng học giả, nhà văn đă dự báo sự ra đời của chủ nghĩa cơ hội ngay trong ḷng chủ nghĩa xă hội như gan tiết ra mật vậy. Và từ nhận định chính thằng học giả mới là “đệ tử chân truyền” của ông toán truởng, tác giả lại đưa ra một dự đoán: cuộc chuyển giao thế hệ rồi sẽ diễn ra theo chiều hướng là thế hệ sau táo tợn, tham lam, lưu manh hơn thế hệ truớc. Quả nhiên h́nh ảnh sa hoa, tham lam, vô trách nhiệm của đám con ông cháu cha hiện nay đang làm người ta lo ngại rằng cứ cái đà sống và vơ vét như thế này, mai tới lúc chúng cầm cân nảy mực xă hội thay thế cha ông chúng th́ sẽ ra làm sao?
Đó là nói về “những nguời chỉ huy”, thế c̣n bọn cùng đinh, phó thường dân th́ thế nào? Thằng hộ pháp lúc nào cũng hùng hục như trâu lăn, trong đầu chả có tư ư niệm ǵ về những câu khẩu hiệu thi đua “lấy sương làm màn, lấy lá làm chiếu”mà ông toán trưởng vẫn nhồi nhét vào đầu, nó chỉ mơ ước cướp được vợ thằng xă đội để đưa đi thật xa khỏi xă hội có tem phiếu, có hộ khẩu, có mọi sự “quản lư”. Vậy nhưng khi vỡ mộng, “vợ thằng xă đội đă có thai 3 tháng” chẳng thể nào theo nó đi tới miền hoang dă để xây dựng hạnh phúc được, th́ nó không sa đoạ như thằng học giả, ngược lại nó trưởng thành hẳn lên, một ư thức trách nhiệm mới nảy nở và khi lại bỏ làng ra đi về miền hoang dă, thằng hộ pháp đă tự nhủ: “Không, rồi thế nào nó cũng trở về, nhất định là thế, đất làng càng đói nghèo càng không thể dứt bỏ mà đi.”
Thằng cấp dưỡng, cậu con cầu tự th́ lại là một dạng khác. Nó là thằng sớm nhận ra “ông toán truởng giả vờ đi ỉa đểû ăn lén cái bánh trưng”, sớm nhận ra “mặt trời cũng có vết đen”, bởi thế nó mặc sự đời, mặc ông toán trưởng loay hoay với ư nghĩa quan trọng của con đường, mặc thằng học giả giở đủ tṛ thối tha để đuợc kế cận ông toán truởng, mặc thằng hộ pháp suốt ngày: “ối giời ơi, tao nhớ con vợ thằng xă đội quá”, nó “mặc cha” hết để tập trung mỗi một mục tiêu: làm thật nhiều tiền để về xây nhà cho mẹ. C̣n cái thằng nhân vật “tôi” vốn là đứa trẻ mồ côi vô thừa nhận, chẳng có ǵ mà “nhớ tới”, chẳng có ǵ mà “nhằm tới”, thôi th́ cứ sống theo kiểu “bấc đến đâu dầu đến đấy” vậy thôi. Cái tính bản thiện trong con người khiến nó “kính nhi viễn chi” ông toán truởng, chẳng thể nào nghe theo ông rủ rê làm thế hệ kế tiếp cho ông. Và rồi dường như phận số đă mỉm cười với nó khi đưa đến cho nó mối t́nh thuần khiết của nàng Sao miền rừng núi.
Cái kết cục của “Đi về nơi hoang dă” không chỉ cho ta cái kết cục tất yếu ảo tưởng về một con đuờng đi tới được đỉnh Hua Ca. Hơn thế nữa, cái đỉnh Hua Ca kia chỉ có trong “huyền thoại” và một khi huyền thoại đă không c̣n nữa, th́ t́nh yêu thương giữa con người với con người sẽ thay thế cái đẹp mà cứu chuộc thế gian này. Sự tồn tại và trưởng thành của dân tộc ta qua biết bao thăng trầm của lịch sử, biết bao băo táp của chiến tranh và cách mạng, phải chăng đă minh chứng điều đó.
Và với thông điệp như vậy hẳn là “Đi về nơi hoang dă “ sẽ c̣n được các thế hệ mai sau đón đọc...
Nhà xuất bản huyền trân
California tháng 1/2001


***


Đi về nơi hoang dă (tiểu thuyết)


một


Chúng tôi có năm người, một ông già và bốn gă đàn ông lực lưỡng sẵn sàng làm chồng những cô gái khỏe mạnh, làm cha những đứa bé chập chững, làm chủ những gia đ́nh vào chiều đông xám lạnh như chiều nay hẳn đang quây quần quanh bữa cơm nóng sốt.
Vậy mà đằng đẵng bao năm nay, chúng tôi bị quăng lên những đỉnh núi quanh năm mây phủ, không có cả đến một tiếng chó, một băi phân trâu, cái thứ ở dưới miền đồng ruộng kia, ta bắt gặp nhan nhản ngay khi chưa bước chân vào cổng làng. Thật khó biết được giới hạn của nhu cầu và sức chịu đựng của con người. Như tôi chẳng hạn. Từ mờ đất tiếng c̣i của ông toán trưởng đă đột ngột xé toang mọi giấc mơ, tôi nhảy trên vơng xuống. nhét vội vào dạ dày nắm cơm muối vừng, thế rồi cầm lấy một con dao, cứ nhắm phía trước phát một vệt ṃn qua bùng nhùng gai góc, chẳng mấy chốc quần áo đă đẫm mồ hôi, ḿnh mẩy ngứa ran bụi bặm, cổ khô đắng hồng hộc hơi thở, mặc kệ, cứ nghiến răng nhoài tới cho đến khi tiếng c̣i rúc lên mới vứt dao nằm vật ngửa, dốc ngược bi đông nước vào cuống họng, nỗi mệt nhọc chưa kịp tan trong các mạch máu, tiếng c̣i đă lại vực dậy, cầm lấy con dao và lại phát cây dẫn cái vệt ṃn ấy ngày càng đi sâu vào những vùng rừng rậm núi cao mà ngay ánh mặt trời lắm khi cũng chẳng chịu chiếu tới, dẫu rằng đằng sau balô của mỗi chúng tôi, thằng nào cũng dán một khẩu hiệu “mặt trời không lặn trên tuyến đườøng khảo sát”, như vậy có nghĩa mặt trời có thể lặn đằng sau dăy núi xanh xám kia nhưng lại không lặn trong công việc đầy nhọc nhằn của chúng tôi ít nhất cho tới khi cái c̣i trong túi ông toán trưởng được rút ra thường thường vào lúc xâm xẩm hoặc tối mịt tới mức thằng nọ có thể chém dao vào lưng thằng kia. Tuy nhiên tôi không thể trách ông toán trưởng. Giá ông cũng cầm dao phát rừng như bọn tôi, hẳn cứ mười lăm hai mươỉ phút, ông phải rút c̣i thổi một lần; đằng này ông chẳng phải mệt nhọc mấy, chỉ đi sau chót, tay cắp cuốn sổ, cây bút, thỉnh thoảng ghi ghi chép chép, lại c̣n được ngồi nghỉ mỗi khi chúng tôi húc phải một bụi tre gai làm mấy đứa phải xúm vào dọn dẹp cả tiếng đồng hồ. Những lúc như vậy, tay ông vẩy vẩy điếu thuốc, miệng luôn luôn giục:
“Nhanh lên các đồng chí, hôm nay không khéo lại hụt năng suất”.
Năng suất - đó là chiều dài hai ngàn mét đoạn đường chúng tôi phải mở được trong một ngày, đó là cái được nhắc tới nhiều nhất vào lúc chiều, thỉnh thoảng thằng nọ lại hỏi thằng kia: “đạt năng suất chưa mày? “. Trả lời được, tất nhiên chỉ có ông toán trưởng cộng sổ, nhưng ông toàn giấu, ngay cả khi đủ năng suất rồi, ông vẫn bảo chưa, để thúc chúng tôi làm nữa. Tuy nhiên, trong cả bọn, sướng nhất vẫn là thằng cấp dưỡng. Sáng sớm dậy nấu một nồi cơm, rồi cả ngày, nó nằm khểnh trong hang hoặc vạt cây nào đó trông coi đồ đạc, măi đến chiều mới phải nấu một nồi cơm nữa. Nhiệm vụ nó chỉ có thế, ngoài ra nếu hứng lên nó có thể xách khẩu súng trường duy nhất trong toán đi bắn con chim, con sóc hoặc con gà rừng làm món ăn tươi. Nhưng chuyện đó hàng năm chỉ xảy ra vài lần, cái thằng cấp dưỡng lười thối thây ấy khoái nằm kéo bễ hơn là ḷ ṃ xách súng đi bắn thú. Và hàng ngày, hai bữa đều đều bọn tôi vẫn chỉ có rau rừng nấu tép khô với nước mắm viên tống vội tống vàng vào năm cái dạ dày lép kẹp.


hai


Bữa ăn cuối cùng trong ngày c̣m cơi đến độ biến đâu mất vào lúc chúng tôi chui cả vào trong những chiếc vơng căng ngổn ngang quanh một cái hang hàm ếch và giấc ngủ khó mà tới khi trong bụng có tiếng óc ách than văn của cái dạ dày đang co bóp vào chính nó. Tôi cố ép sự suy nghĩ hướng tới những gía trị cao đẹp trong tinh thần con người như sự anh dũng của người lính trước họng súng quân thù, sự bất khuất của người tù trươc cám dỗ của kẻ địch, nhưng hỡi ôi, tôi không sao xóa được h́nh ảnh cái đùi gà luộc vàng ngậy cứ ngọ nguậy trong trí tưởng tượng bất trị của tôi. Cái lạnh buốt của rừng khuya đă thấm qua được lần vải vơng nhoi nhói châm vào da thịt, và bây giờ th́ cả cái đói lẫn cái rét làm co quắp cả người như một con sâu thảm hại trong kén lá. Tôi giở ḿnh, úp sấp cho toàn bộ cái lưng khỏi giáp với mặt vơng buốt thon thót, thôi không c̣n muốn chống đỡ, mặc kệ cho thân xác bị dày ṿ, hy vọng giấc ngủ sẽ xóa đi tất cả. Vậy nhưng đúng vào luce h́nh như tôi đang thiếp đi bỗng có thằng khốn nạn nào đó hét toáng lên:
“Dậy, dậy đi chúng mày ơi, đói rét thế này ngủ thế chó nào được”.
Tất nhiên chỉ trừ có ông toán trưởng chưa leo lên vơng, vẫn c̣n lúi húi làm ǵ đó, c̣n cả bốn thằng đều bật dậy, đốt một đống lửa và ngồi quây quanh, hắt những cái bóng chập chờn lên vách núi. Gió vẫn giật đùng đùng, kéo theo màn sương lạnh buốt, thổi bùng ngọn lửa bốc cao. Người tôi ấm dần, và kể cũng lạ, cái đói cũng dịu đi. “Các cậu ạ, thử tưởng tượng, lúc này ḿnh đang ngồi trong một cửa hàng đặc sản th́ các cậu sẽ gọi món ǵ trước? “ Thằng nêu ra câu hỏi đầy tính cách lăng mạn đó là nhà học giả của chúng tôi. Trong balô của nó, ních chặt những cuốn sách dày mà ngay đến cái tên, dù chỉ mới liếc qua, tôi đă thấy ngán. Ấây thế mà thằng trí thức “rởm” đó khăng khăng không chịu ḥa ḿnh vào quần chúng, không như chúng tôi vào những lúc nghỉ ngơi ngồi tán dóc, đi kiếm rau, bắt cá, nó chọn một chỗ thật hẻo lánh, ôm khư khư cuốn sách, nhai gau gáu những ḍng chữ nhỏ li ti trong đó. Aí già, gái góa lo việc triều đ́nh, cái phận cầm dao phát cây cho người ta vẽ ra con đường th́ chỉ nên lo mài con dao thật sắc, hùng hục mà làm, ngoài giờ chính quyền phải nghỉ ngơi để “tái sản xuất sức lao động”, sách vở chữù nghĩa là cái thứ để cấp trên người ta lo. Nhưng con mọt sách ấy chẳng chịu nghe ai, nó cứ gặm đều đều những cuốn mà hàng năm về phép nó khuân lên cả gánh. Chữ nghĩa chui vào đầu nhiều quá làm đôi khi nó bần thần như thằng dở người, nó lẩm bẩm cái ǵ đó, miệng cười mủm mỉm, tôi đi phát cây đằng sau phải quát lên: “Chặt cái cành mây kia đi ông học giả, chú ư vào con dao không chém vào tao giờ”. “Con người là tổng ḥa của các mối quan hệ xă hội... h́... h́... h́... h́...”. Nhữùng lúc đó nó phải nói một câu ǵ, đại loại thế, rồi mới chịu chui vào bụi gai, mím môi mím lợi vung dao lên. Tuy nhiên cái bệnh chữ nghĩa ấy chỉ có cơn thôi, b́nh thường nó cũng như chúng tôi, cũng làm hùng hục, cũng phàm ăn tục uống chẳng thua kém thằng nào. Mỗi bữa ăn, trừ ra có ông toán trưởng ăn riêng v́ nghi đau dạ dày, c̣n lại bốn thằng, cơm vừa xới ra, thằng nào thằng ấy, bưng bát lên ngoạm ngay một góc cho đầy mồm cái đă, rồi mới chọc đũa vào thức ăn, rồi th́ không ai nói với ai một câu, chúng tôi lao đầu vào cuộc thi đua sôi nổi nhất trong các cuộc thi đua màø hàng tuần, hàng tháng ông toán trưởng vẫn phát động.
Người quăng bát xuống trước tiên bao giờ cũng là thằng hộ pháp to cao, lực lưỡng nhất bọn. Nó vỗ vào bụng bộp một cái rồi cười hà hà: “Nào bây giờ lên rừng bắt voi cũng được...”.
Đó là nhằm bữa có chậu cơm đầy, hôm nào lưng lửng nó vuốt bụng thở dài:
“Này, tao đă ăn chưa ấy nhỉ? “.
Nó là thằng ăn nhanh nhất và mau đói nhất bọn. Bởi vậv nó sốt sắng hưởng ứng ngay câu hỏi của thằng học giả:
“Tao ấy à, lúc này mà ngồi ở cửa hàng ăn, chẳng lôi thôi ǵ sất, tao sục ngay vào bếp, vớ ngay con gà luộc rồi cứ thế là...”
Nó xé đôi con gà tưởng tượng rồi đưa lên mồm, trợn mắt lên cứ thế nhai nhồm nhoàm y như một nhà kịch câm đại tài. Tôi hoảng sợ kêu to:
“Từ từ, nhai từ từ thôi, nhè xương ra không hóc chết”.
Thằng cấp dưỡng vội vă:
“Muối tiêu đây, muối tiêu đâỵ.. Mày ăn nhạt thế tổ phí gà...”
Lúc này thằng học giả mới lên tiếng:
“Chú ng mày đúng là một lũ chó đói. Bụng đang rỗng mà nốc thịt vă vào có mà rách dạ dàỵ Vả lại đă vào đến cửa hàng đặc sản th́ ḿnh phải ngồi nghỉ cái đă ở bàn ăn có phủ khăn trắng muốt, rồi th́ sẽ có một em mũm mĩm đi tới đưa cho ta cái khăn tẩm nước hoa thơm nức, sau khi cười với ta một cái xinh thật là xinh, em mới đưa cho ta bản thực đơn bọc nylông c̣n đẹp hơn cả sổ hộ khẩu ấy kia, rồi th́ em mới cất giọng thỏ thẻ hỏi thưa ngài dùng ǵ?...
Nó ngừng lại, đưa mắt nh́n quanh cả bọn đang há mồm nghe.
“Ấy đấy cái chỗ này mới là cái chỗ tao hỏi chúng mày”.
Rồi nó chỉ tay vào mặt tôi:
“Thưa ngài, ngài dùng món ǵ?”
Áùi chà, tưởng như là bao nhiêu nước trong người đă ứ đầy cả lên miệng, tôi nghe tiếng dạ dày rên lên mừng rỡ, chẳng nghĩ ngợi ǵ nữa, tôi gọi bừa:
“Thịt quay đi, thịt quay dưa chua, củ kiệu”
Thằng học giả cười khẩy, quay sang thằng cấp dưỡng:
“C̣n ngài, thưa ngài, ngài dùng ǵ? “.
“Tao ấy à, bê luộc cả con bưng lên đây. Rồi lại phải có tương gừng cho thơm. Đặc sản mà lị”.
Đến lượt thằng hộ pháp, nó đă sực hết một con gà luộc, giờ nó gọi món ǵ đây? Quả thực đối với thằng khổng lồ này, suy nghĩ thật là việc khó, nó có thể gồng tay lôi bật được cả một cây song to bằng cổ tay, có thể vừa khoác balô, vừa cơng cái máy vô tuyến điện của ông toán trưởng phăng phăng leo dốc, nhưng bắt nó phải động năo th́ thà nó chịu đi bổ củi c̣n hơn. Nó cứ lắc lư măi cái đầu, giơ tay găi gáy măi rồi toét miệng ra cười:
“Đặc sản chó ǵ cũng không bằng ḷng lợn tiết canh. Phải đấy, giờ có bát tiết canh tao chỉ tợp một cái là trôi tuốt luốøt vào dạ dày”.
Thằng học giả lúc này mới đưa mắt nh́n quanh với cái vẻ thật khinh bỉ. Nó quẳng thêm mộøt cục củi rơ to vào giữa đống lửa rồi mới chịu lên giọng thày đời:
“ Đúng là bọn mày chưa thằng nào được đặt chân vào hàng đặc sản. Mới món đầu tiên mà đă gọi thịt quay với bê luộc th́ nhà hàng nó cười cho vỡ mũi. Này nhé. đầu tiên phải cho cái dạ dày nó khởi động, vậy th́ ta chỉ gọi món nhẹ thôi, tỷ như súp lươn, súp cua hoặc là súp bóng cá...”
Tố phải tṛn xoe mắt kinh ngạc không hiểu những điều thằng học giả đang thao thao bất tuyệt kể lể tới từng chi tiết nhỏ nhất kia là những điều hắn học được trong sách hay đă được trải qua. Dẫu sao, trong ánh lửa bập bùng và huyền ảo, trong tiếng nổ lục bục của cây nứa bị quẳng vào giữa đống than hồøng, tất cả chúng tôi ngồi im phăng phắc há mồm ra nuốt từng lời, cứ như là đang nuốt miếng thịt ḅ thái mỏng, tẩm rượu vang, lăn qua một lần mỡ sôi, những lườøn cá nạc đặt trên bếp ḷ, ngọt tê đi trên đầu lưỡi v́ đă được chín khô không mất đi một giọt nướe... Liệu có một nhà truyền giáo nào hớp được hồn con chiên như thằng học giả đang làm mê mẩn bọn tôi lúc này không? Bữa tiệc do “nhà truyền giáo” của chúng tôi thết đăi chắc c̣n thêm mấy món tráng miệng tân kỳ nữa nếu như nó không bị cắt đứt tàn nhẫn bởi tiếng c̣i chói tai. Bọn tôi quay hết về phía cửa hang, ở đó, ông toán trưởng đang đứng, khoác một chiếc chăn bông to tướng, lừng lững hắt lên vaceh núi một cái bóng đen ś. Tiếng quát của ông lanh lảnh, vang vọng trong hang núi khiến người nghe cảm giác như nó được phát qua một hệ thống loa tăng âm.
Suốt từ chập tối, một ḿnh ông cặm cụi với chiếc máy thu vô tuyến điện, giờ chắc ông đa ơliên lạc được với ban chỉ huy và sắp sửa ra cho chúng tôi những cái lệnh mới.
“Các đồng chí chú ư, từ sáng mai chúng ta sẽ có khẩu hiệu mới thay thế cái tuần trước. Tất cả phải viết lên băng giấy dán trên mũ.”
Ông toán trương có ư chờ bọn tôi mở hết cỡ cả đôi con mắt, doăng thật rộng đôi tai, sẵn sàng nuốt từng lời, ông mới hắêng giọng đọc to:
“Lấy cây làm nhà, lấy lá làm chiếu, lấy sương làm màn... Quyết tâm chiếâm lĩnh đỉnh cao phía trước”.
Rồi ông giảng cặn kẽ cho chúng tôi nghe như thế nào là “đỉnh cao phía trước”. Lại cũng giống như lúc thằng học giả diễn tả các món ăn, chúng tôi há mồm ra nghe ông toán trưởng từng lời từng chữ cho tới khi ông yên tâm đă nhồi nhét hết những điều cần thiết vào cái đầu bă đậu của bọn tôi ông mới chịu quay vào góc riêng trong hang hàm ếch. Đống lửa đă cháy vợi đi một nửa mà không ai trong chúng tôi chịu bỏ thêm vào đó một cành củi khô. Sau cùng vẫn là thằng học giả lên tiếng phá vỡ cái không khí im lặng nặng nề sau bài diễn thuyết của ông toán trưởng. Nó nói:
“Mẹ kiếp, ở trên đời này có hai cái hành hạ con người ta tệ hại nhất”.
Thằng hộ pháp và thằng cấp dưỡng chẳng hề quan tâm tới câu nói sặc mùi triết lư, chúng nó bỏ đi, leo lên vơùng nằm chỉ có tôi ngồi nán lại với thằng học giả:
“Cái đó là cái ǵ thế?
“ÙCái lỗ mồm, hàng ngày mày không đổ vào đó cho đủ mười bát cơm, thử hỏi mày có khổ không nào?”
“Thế c̣n cái ǵ nữa?”
Nó lẳng lặng đứng dậy rồi leo lên vơng, vướng phải cái nh́n vật nài của tố, nó toét miệng ra cười:
“C̣n cái con cặc... thằng ngu, có thế mà cũng phải hỏi.”


Ba


Khi tiếng c̣i toét lên vào lúc sáng sớm, cái đáng sợ nhất đối với tôi là phải cởi bỏ bộ quần áo ấm và sạch để xỏ vào người bộ pḥng hộ lao động lâu ngày không được giặt v́ ở trên cao rất hiếm nước, dày cộp đất cát, mồ hôi và bồ hóng của những buổi tối, đi rừng về hơ nó trên ngọn lửa. Suốt ngày, cái bộ đồ dă chiến đỏ lúc nào cũng tạo cho tôi một cái mùi như mùi... ổ chó. Mỗi lần thay quần áo, thấy tôi cứ ngập ngừng măi, thằng cấp dưỡng lại cười riễu:
“Nhịn đánh răng rửa mặt đi, năm ngày có năm bi đông nước là đủ giặt quần áo đấy”.
Tôi nhắm mắt choàng cái “ổ chó” vào người chạy nhanh ra chỗ bọn nó đang giơ tay, giơ chân tập thể dục theo tiếng c̣i của ông toán trưởng. Quả thực, đối với chúng tôi suốt ngày luôn chân luôn tay leo trèo như khỉ th́ cái tṛ thể dục này là rất hài hước. Tuy nhiên nó lại là một phong trào nằm trong báo cáo thi đua ông toán trưởng hàng ngày vẫn báo cáo về Ban chỉ huy qua cái máy VTĐ của ông th́ làm sao có thể bỏ được trừ ra những ngày mưa lớn. Vậy là chúng tôi giơ tay, xoạc chân cốt cho xong bảy độn g tác thể dục để rồi c̣n lao vào chậu cơm bốc khói nghi ngút thằng cấp dưỡng mới bày ra kia.
Tuy nhiên, sáng nay, thể dục xong, thằng học giả kéo tay tôi, nán lại ở đầu núi. Nó nh́n trừng trừng ra phía trước, chỉ tay, hỏi tôi:
“Mày có thấy cái ǵ không?”
Tôi căng mắt nh́n măi chẳng thấy cái ǵ ngoài những đỉnh núi lô nhô c̣n đắm ch́m trong màn sương dày. Thằng học giả bỗng trầm giọng:.
“Bao nhiêu năm nay, cứ thức dậy tập thể dục tao lại thấy những dăy núi trước mặt giông giống như những bức tường trại giam. “ -
Tôi ngẩn người ra v́ cái ư tưởng kỳ lạ của nó. Nó vẫn sống, làm việc, học tập như những người công nhân tự do đấy chứ, có ai giam hăm tù đày ǵ đâu. Thằng này không khéo mắc bệnh thần kinh, chắc tại nó ngốn nhiều sách quá đây mà. Quả thực bỗng dưng nó nổi khùng với tôi:
“Chúng mày đúng là một lũ trâu ḅ. Ăn ngủ, kéo cày hùng hục, thế là đă măn nguyện lắm rồi. Đ. mẹ nó, sống thế này cũng gọi là sống hả?”
Nó run bắn lên giận dữ. Thằng này thiếu an tâm công tác rồi, tôi nghĩ thế, hóa ra bao nhiêu điều ông toán trưởng vẫn thường dạy dỗ chẳng lọt vào đầu nó tư nào. Theo cách nói của ông, như thếlà nó đă “có vấn đề về tư tưởng”, hoặc chi ít cũng “ngại khó ngại khổ, thiếu ư chí chiến đấu “. Mặc xác nó, cuối năm bọn tôi trở về xuôi, qua một đợt chỉnh huấn mùa đông là cu cậu lại đâu vào đấy ngay ấy mà. Nh́n vẻ mặt lầm lầm của tôi, nó lại hiểu khác đi. Nó rít lên:
“Đi mà báo cáo với thằng bố mày. Tao thách đấy...”
Tôi vung tay đấm thẳng vào mặt làm nó ngă dúi xuống.
“Đánh đi, mày cứ đánh nữa cho tao chết đi...”
Nó lồm cồm ḅ dậy, mặt rúm ró, bày ra một vẻ thảm hại khiến tôi bỗng thấy đau nhói ở ngực. Thà nó chồm lên đấm trả lại tôi cho hộc máu mồm ra c̣n hơn là nó nh́n tôi với đôi mắt như thế. Nó đùng đục như đôi mắt cá chết nhưng mà lại bỏng rẫy lên ở trong tôi. Ngày hôm đó tôi phát cây như một thằng điên. Tôi đẩy thằng học giảû ra, giành lấy phần của nó, lao vào những bụi cây đầy gai góc, men người trên vách đá chặt những dây leo lơ lửng... không hé răng lấy một lời khi nó xách dao lẽo đẽo đi sau tôi, lải nhải “Thôi,. nghỉ tay để tao phát đỡ cho...” Ngày hôm đó năng suất bỗng vọt lên gấp đôi: chúng tôi phát được một đoạn đường dài những ba ngàn rưởi mét. Ông toán trưởng đi sau kéo thước đo và ghi vào sổ, cười nói hể hả. Đấy, như thế mới gọi là thiết thực hưởng ứng phong trào thi đua “một người làm việc bằng hai” chứ. Cố gắng lên các đồng chí, cố chiếm được đỉnh cao tăng năng suất hai trăm phần trăm để lấy thành tích chào mừng Đại hội Côøng đoàn sắp tới. Được lời như cởi tấm ḷng, thằng hộ pháp thích chí cười ha hả:
“Vậy tối nay thủ trưởng thưởng cho anh em nồi cháo đi”.
Ông toán trưởng tỏ ra dễ dăi nhất đời:
“Nhất trí hoàn toàn.. Muốn cháo th́ tối nay sẽ ăn thêm cháo. Nhưng ngày mai mỗi bữa mỗi người bớt đi một lạng gạo nghe không?”
Tôi phải bịt mồm ngay thằng học giả lại không th́ hẳn nó sẽ văng ra câu chửi chắc là tục lắm. May qúa, ông toán trưởng đi măi đằng sau, khuất lùm cây nên không trông thấy. Chi li như thế kể cũng đúng thôi. Bởi v́ ông đă tính toán trên bản đồ, số gạo mang theo chỉ đủ ăn cho tới lúc đi đến gần bản nhất, ở đó chúng tôi sẽ mua gạo để đi tiếp chặng sau. Mọi thứ trên đời đều đă được ông lên kế hoạch cả rồi, trong đó đương nhiên không thể có bữa cháo tối ngẫu hứng ấy được. Cứ ăn bừa cho thích khẩu, mai kia hết gạo không lẽ chết đói giữa rừng? Tôi “đả thông” cho thằng học giả như vậy, chẳng biết nó có thông không, chỉ thấy nó nhếch miệng cười nhạt.
Tối hôm đó chỉ mới nhọ mặt người, thằng hộ pháp đă bắc nồi cháo xuống, miệng cười toe toét:
“Nào, chúng mày đâu, tế sớm khỏi ruồi”.
Thằng cấp dưỡng vừa thọc cái muôi xuống bát cháo, đưa lên miệng nhấm nhấm đă chu chéo:
“Thôi chết rồi, có nửa gói ḿ chính, thằng nào đem đổ hết vào đây th́ cháo mới ngọt thế này chứ. Vậy từ mai lấy cứt bỏ vào canh hả?”
Nó chửi toáng lên như một bà nhà quê mất gà; cứ nhè cái đứa tham ăn tục uống nào đó, gói ḿ chính nó đă phải nhét tận đáy ba lô, hàng ngày chỉ dám lôi ra gảy gảy vài hạt vào nồi canh, vậy mà cái thằng độc ác bất nhân ấy đang tâm lấy cắp, đổ hết vào nồi cháo th́ thử hỏi trong con người nó c̣n chút lương tâm nào không chứ?
Chúng tôi đưa mắt nh́n nhau, cố đoán xem thằng nào là thủ phạm có gan tày đ́nh như thế. Ông toán trưởng phải tạm dời cái máy vô tuyến điện, chạy từ trong hang hàm ếch ra phân xử:
“Đồng chí nào đă làm chuyện này nên tự giác, thành khẩn nhận khuyết điểm.”
Không một đứa nào đưa tay nhận tội mặc dù ông toán trưởng đă viện dẫn cả tới những phẩm chất ưu việät của con người mới xă hội chủ nghĩa ra để răn đe và thuyết phục. Chờ cho ông nói đến gần đứt hơi, thằng học giả mới chơ lên
“Nhưng thưa đồng chí thủ trưởng, vấn đề chính ở đây là thằng cấp dưỡng có thực mất gói ḿ chính ấy không đă”.
Câu nói của nó vang lên như phát súng, thằng cấp dưỡng gào lên:
“Không mất th́ ḿ chính trong cháo này đâu ra?”
Thằng hộ pháp nhảy ba bước vào góc bếp, xách chiếc ba lô thực phẩm, lôi ra vứùt lung tung đủ thứ gói, hộp và cuối cùng nó reo lên:
“Gói ḿ chính đây chứ đâu, chưa chi đă nghi anh em ăn cắp, ông th́ nhét cả vào mơm mày bây giờ.,, “.
Thằng cấp dưỡng cười bẽn lẽn:
“Th́ cứ tưởng chỉ nhà bếp mới có ḿ chính. thôi, tớ xin lỗi, nhưng lạ nhỉ, vậy thằng nào có ḿ chính mà cất kỹ thế?”
Tôi chợt thấy ông toán trưởng sa sầm nét mặt, vộïi vă bước vào trong hang nơi ông cất ba lô. Thằng học giả cười khảy, bưng bát cháo lên miệng, rối rít khen “ngọt, ngọt”. Tôi hỏi nó:
“Ḿ chính của ai thế?”
“Của con người luôn kêu gào chống chủ nghĩa cá nhân và luôn luôn đ̣i hỏi “ḿnh v́ mọi người”.
Tôi hiểu nó ám chỉ ai, nhưng tôi không tin, hoặc cố không tin, tuy thế bát cháo vẫn trở nên nhạt nh ẽo và chán phèo, tôi quẳng nó xuống và đứng dậy. Chui người vào trong chiếc vơng quen thuộe, tôi c̣n nghe tiếng cười của thằng học giả vẳng tới:
“Chúng mày cứ ăn cho chán đi. Nghĩ ngợi làm chó ǵ. Mặt trời c̣n có vết đen, huống hồ con người.”
Tôi cố nhắm mắt mà không sao ngủ được. Lần này th́ không phải cái đói hay cái rét mà là những ư nghĩ của chính tôi. Ôâng ta là người đă rủ rê tôi theo ông. “Cậu đang c̣n trai trẻ, quẩn quanh phố phường làm ǵ cho hèn người. Làm thằng đàn ông phải lên rừng, xuống biển cho phỉ chí nam nhi...” Tôi kính trọng và nghe theo ông cũng v́ một thời trai tráng ông đă: “vùng vẫy” như thế. Mới ngoài năm chục tuổi, ông đă có trên hai mươi năm lăn lộn khắp các vùng rùng núí Tây bắc, Việt Bắc khảo sát và thiết kế được biết bao nhiêu con đường quan trọng. Một con người cả đời đă được mưa rừng gió núi làm thoáng đăng tâm hồn, không lẽ lại làm cái việc nhỏ nhặt là giấu diếm một chút ḿ chính ăn riêng. Không, thằng học giả nói láo, sách vở chữ nghĩa làm méo mó đầu óc nó rồi. Ông toán trưởng thường bảo bọn trí thức là bọn đáng ngờ nhất, nếu không được giáo dục đến nơi đến chốn, bọn nó không đáng bằng cục cứt. May cho tôi không phải trí thức, tôi chỉ là thằng thanh niên lêu lổng, mới rời ghế nhà trường phổ thông, đầu óc chưa bị tiêm nhiễm nặng nề nọc độc của chủ nghĩa cá nhân tư sản, bởi thế như ông nói, tôi rất dễ phấn đấu vươn lên. Chao ôi, quả thực ông đă lầm lẫn khi chọn tôi làm “ṇng cốt” để “bồi dưỡng”, “đào tạo”, tôi chẳng báo cáo được ǵ cho ông về những câu chuyện tào lao bọn nó vẫn đấu láo mỗi khi vắng mặt ông chẳng góp ư giúp đỡ được đứa nào mỗi khi khổ cực quá, chúng nổi khùng lên chửi cha cả cuộc đời. Tôi cũng không tha thiết lắm những điều ông vẫn hứa hẹn: lên lương, đi học, chức quyền... các cái đó với tôi, cũng xa xỉ và xa xôi hăo huyền như những món ăn đặc sản thằng học giả thết chúng tôi buổi tối hôm nào vậy.


Bốn


Rừng mỗi lúc một ken đặc lại bởi các thứ dây nhợ lùng nhùng như một bức tường chắn ngang. Suốt từ sáng sớm, chúng tôi ra sức tung hoành, phát bở hơi tai mới nhúc nhích đươc quăng ngắn, ông toán trưởng bắt đầu sốt ruột, luôn miệng hỏi sắp ra tới đoạn rừng thưa chưa? Thằng hộ pháp xách dao luồn lên phía trước thăm ḍ, lát sau nó quay lại kêu toáng:
“ối giời ơi,
Thôi chết, không khéo thằng này bị rắn xanh, cái thứ rắn quái ác, chỉ nhỏ bằng chiếc đũa, vẫn nằm cuộn trên cành cây, bổ một nhát vào cổ cũng nên. Tôi vội vàng nhào lên, hỏi cuống quít:
“Sao thế? mày sao thế?”
Nó nằm thẳng cẳng, nhắm mắt lại rền rĩ:.
“ối giời ơi, ối giời ơi..”
Tôi lay người nó:
“Sao? Mày làm sao? Rắn cắn hả?”
Nó mở mắt ra kêu to:
“ối giời ơi, khỉ nó hiếp đít tôi...”
Chao ôi, cho dù đôi mắt ông toán trưởng quắc lên lồi ra như tượng ông Ác, chúng tôi cũng không thể nào không phá lên cười:
“Ha ha... ha ha... ha ha...”
“Câm ngay, câm ngay.”
“Chưa bao giờ tôi thấy cơn giận của ông toán trưởng nổ ra ghê gớm như thế, dễ thường bao nhiêu lời hay ư đẹp ông vẫn dậy dỗ chúng tôi bốc hơi đâu hết, ông chửi rủa sự vô giáo dục của thằng hộ pháp bằng những lời mà lúc đầu nó c̣n nhăn răng ra cười rồi sau mặt đỏ tía tai, nó đứng phắt dậy:
“Ông là cái thớ đéo ǵ mà chửi bới cứ như là bố người ta thế?”
Tôi nhảy vội vào giữa để can ngăn, lo sợ trận lôi đ́nh của ông sẽ nổ ra khủng khiếp c̣n gấp mấy lần trước. Lạ thay, ông im bặt, tay chân run lẩy bẩy, hớp hớp mấy ngụm khí lạnh, rồi quay sang, khàn giọng nói với thằng học giả:
“Đồng chí luồn lên phía trước thử nghe xem có tiếng thác nước không? Theo đúng bản đồ, chúng ta sắp tới đỉnh thác Bôrô”.
Rất nhanh, ông trở lại những cử động quen thuộc: đặt địa bàn lên bản đồ, cộng các số trong sổ đo chiều dài, trán cau lại v́ những suy nghĩ chẳng ai đoán nổi. Thằng hộ pháp quăng con dao vừa năy có ư giơ lên dọa ông toán truởng lên tảng đá, rồi không nói không rằng, ngả ngay người trên thân cây đổ, nhắm mắt đánh một giấc cứ như trên đời này chẳng có chuyện ǵ xảy ra. Ôâng toán trưởng lướt cái nh́n qua người nó, hướng về phía thằng học giả vừa luồn người biến mất sau bụi rậm. Cái vẻ nhẫn nhục của ông làm tôi thấy chợt thương. Thật khó mà hiểu nổi động lực nào đă thúc đẩy ông làm cái nghề quanh năm ṃ mẫm trong cái miền u t́, rừng xanh núi đỏ này. Nghe nói trước ông làm to cỡ trưởng, phó pḥng ǵ cơ đấy, thế rồi trong một khóa học chính trị dài hạn, ông kèm cặp, bồi dưỡng văn hóa cho một bà cũng làm to như ông. Quả nhiên sau một thời gian, kiến thức của bà có được nâng cao nhưng không bằng cái bụng mỗi ngày một lùm lùm lên của bà. Biết làm sao được, bà mải mê hoạt động đến quá cái tuổi để lấy được chồng, c̣n ông, vợ lại ở quê xa lắc xa lơ, cả năm cũng khó gặp nhau. Thật bom nổ giữa cuộc họp c̣n chưa kinh khủng hơn khi cái chuyện tày đ́nh ấy lộ ra. Bởi vậy bà đành phải giải quyết nó bằng một biện pháp tuyệt vọng là thắt lưng buộc bụng lại. Thế nhưng đúng như điều ông vẫn thường giảng cho bà: “quy luật khách quan tồn tại bên ngoài ư muốn chủ quan của con người...”. Một ngày kia chị lao công bỗng hét ầm lên trong chuồng tiêu khi nh́n thấy một bé hài nhi bị nhét trong thùng giấy loại. Người ta tông cửa pḥng bà ra và nh́n thấy bà trong trạng thái một sản phụ.
Đứa bé được cứu sống và theo mẹ nó lên một công trường đá heo hút tận trong phía Nam, c̣n ông được đưa măi lên rừng núi phía Bắc để thôi không làm lănh đạo nữa, trở lại cái nghề thăm ḍ khảo sát đường thời trai trẻ ông đă từng làm. Tai họa càng làm da mặt ông khô quắt lại, tuy nhiên nó cũng chẳng làm mất đi vẻ uy quyền, mặc dù quyền lực của ông đă bị thu nhỏ lại đến độ chỉ c̣n sai khiến được bốn thằng bọn tôi. Tất nhiên, những chuyện “bí mật nội bộ” đó tôi chỉ được nghe đồn đại trong những lần cả toán trở về đơn vị để học tập, nghỉ ngơi, c̣n cứ cạy miệng, cũng chẳng bao giờ ông hở ra đôi chút ǵ đời riêng của ông. Ông chỉ nhiều lời khi giao công việc hoặc dạy dỗ chúng tôi thôi, ngoài ra, quanh năm ông câm lặng như một con cóc buồn rầu. Không bao giờ tôi thấy ông nhận được thư của ai hoặc viết cho ai. Những buổi tối nh́n mái đầu hói của ông cúi xuống tấm bản đồ và cái kính lúp trong góc rừng hoang vắng, đôi khi tôi tự hỏi có lúc nào ông nhớ người đàn bà bất hạnh và đứa con rơi của ông chăng? Cả người vợ nơi miền quê xa nữa? Thật cứ như ông đă chặt đứt hết những giây nhợ đó để sống duy nhất với con đường ông đang ṃ t́m trên tấm bản đồ vô tri giữa rừng núi hoang vu.
Thằng học giả đă quay trở lại và thật lạ, miệng nó cũng kêu trời như thằng hộ pháp làm tôi phát hoảng:
“Ǵ thế? chuyện ǵ thế?”
“Núi lửa, ối trời ơi, núi lửa”.
Ông toán trưởng nhét tấm bản đồ vào túi vải, sẵng giọng:
“Anh điên hả? Núi lửa ở đâu ra? Đi đi, tất cả tới chỗ đó...”
Tôi cuộn cái thước vải đo đường lại, thôi không đo, không phát cây nữa, lom khom theo thằng học giả chui luồn qua các bụi rậm đầy gai và rồi bất chợt trước mắt tôi sừng sững một vách đá dựng đứng, cao vút, xung quanh trắng xóa một vùng núi đá vôi trơ trọc không một ngọn cây xanh. Cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng, trời, cái vùng này chẳng khác ǵ hoang mạc trên mặt trăng. Thằng học giả đứng chênh vênh trên cành cây mọc ch́a ra ngoài vách núi, chỉ tay:
“Đó các ông coi có khác ǵ núi lửa không, chỉ thiếu điều nó phun dung nham nữa thôi.”
Ông toán trưởng trầm mặt, tôi hiểu cái quang cảnh đang phơi bày ra kia chẳng đúng tư nào với dự đoán của ông trên bản đồ. Nào đâu thác nước? Nào đâu sườn núi thoai thoải để có thể đặt lên đó con đường tương lai? Bằng tấm bản đồ và cái địa bàn, ông đă dẫn chúng tôi tới chỗ tắc rồi, dải vách đá trùng trùng lớp lớp kia có cả triệu tấn ḿn cũng chẳng phá ra được thành con đường. Để mặc ông ngồi loay hoay với tấm bản đồ muôn thuở, tôi theo thằng học giả quay lại chỗ thằng hộ pháp nằm. Trời, nó vẫn ngáy kḥ kḥ như một cái bễ ḷ rèn. Nó là thằng vô tư nhất bọn, chuyện chọc giận ông toán trưởng vừa năy chắc đă tiêu tan theo tiếng ngáy và nếu không bị dựng dậy, chắc nó ngủ đến mai. Thật khó hiểu sao nó lưu lạc vào cái nghề “khoa học kỹ thuật” này, khi thích hợp với nó hơn cả lại là cái búa trong ḷ rèn, hoặc cái cày trên đồng ruộng. Theo cách nh́n nhận của ông toán trưởng, thằng lực điền này đầu óc nó tư hữu và bảo thủ c̣n rất nặng nề mặc dù trong ba lô của nó tôi cũng chỉ thấy dăm ba bộ quần áo cũ như tôi, và khi ông toán trưởng bảo nó mài dao, nó đi mài dao, bảo ṃ xuống chân núi vác nước, nó đi vác nước, chẳng cưỡng lệnh ông lần nào. ông ghét nó chẳng qua do những tṛ nghịch ngợm như vừa năy và nhất là trong các buổi “sinh hoạt chính trị” chẳng bao giờ nó chịu phát biểu để ông lấy cho đủ số một trăm phần trăm người tham gia, có gặng lắm nó cũng chỉ cười thủng thẳng: “em xin nhất trí với thủ trưởng”. Bù lại tất cả các cái đó, nó là thằng duy nhất đủ sức cơng được cái máy vô tuyến điện cho ông trong lúc chuyển quân qua các vách đá cheo leo, các con suối lắm ghềnh thác mà chưa bao giờ bị va đập. Một lần chúng tôi men theo bờ đứng một con sông nước réo ùng ục, thằng học giả luôn miệng kêu trời, nó bèn xúi thằng hộ pháp:
“Vứt mẹ cái máy trên lưng mày xuống sông. Tụi ông khổ v́ nó đấy”.
Thằng hộ pháp toét miệng ra cười:
“ Ừù nhé, tao quăng đi nhé, hết mẹ nó cả chỉ đạo, chỉ điệc..”
Tôi vội vàng can:
“Ấy chớ, bảo vệ nó xích tay mày là cái chắc”
“Xích cái “nỗ” đít. Thà ở tù c̣n sướng hơn “nặn nội” thế này...”
Nói xong nó nghiêng vai, tháo sợi dây đeo máy cười cười:
“Này tao ném này, này tao ném này...”
Tôi biết nó đùa vậy thôi, ông nội sống lại bắt nó, nó cũng chẳng dám. Nhưng không may, đúng vào lúc đó, nó trượt chân lao cả người lẫn máy xuống sông. Khi ông toán trưởng lần được tới, nó đang chới vớ́ giữa ḍng nước lăm le ch́m nghỉm. Tơi vội quát to:
“Buông máy ra, buông máy ra không chết ch́m giờ...”
Ông toán trưởng cuống lên:
“Không được, không được... Phải cố cứu lấy máy”.
Tôi hiểu, cái máy vô tuyến điện là sinh mạng của ông, là đường dây duy nhất liên hệ với cấp trên, mất nó ông sẽ như máy mất điện, sẽ không c̣n nhận được bất cứ chỉ thị nào để ra lệnh cho bọn tôi được nữa. Vậy nhưng c̣n tính mạng của thằng hộ pháp? Chẳng suy tính nữa, tôi quẳng ba lô, nhảy ùm xuống sông đúng vào chỗ nó vừa mất hút trong ḍng nước xanh rờn. Hóa ra cái thằng hộ pháp ấy hoặc cũng biết sợ hoặc có “tinh thần trách nhiệm cao” nên cứ loay hoay măi với cái máy ở dưới đáy sông, thà chết không rời. Tôi đành phải lặn xuống và cả hai thằng uống đầy một bụng nước, h́ hục măi mới lôi được cái máy lên bờ. Suốt một ngày ông toán trưởng loay hoay sửa chữa. Măi đến khi nó lại phát ra những tiếng “tích tèø, tích tè”, bọn tôi mới thở phào. May quá, ông toán trưởng không hề biết chuyện thằng học giả xui thằng hộ pháp vứt máy xuống sông, nếu không, hẳn hai đứa đă nhận lệnh khoác ba lô quay về Ban chỉ huy. Ngay tối đó, ông họp chúng tôi, khen ngợi thằng hộ pháp có tinh thần nguời lính “thà chết không rời vũ khí”, tuy nhiên cần nâng cao hơn nữa ư thức bảo vệ máy móc nhất là lúc chuyển quân. ông khen tôi có “tinh thần dũng cảm cứu máy”, và nói chung cả hai đứa như thế là rất tốt. Ma xui quỷ khiến sao đó, tôi giơ phắt tay lên xin “có ư kiến”. Tôi nói tôi đă nhảy xuống sông chính là v́ lúc đó thằng hộ pháp sắp chết ch́m. Tôi lại c̣n trách ông toán trưởng tại sao lúc đó không cho nó buông máy ra cứu lấy cái mạng nó? Ông vẫn thường dạy bọn tôi “con người là vốn quư nhất” kia mà... Chao ôi, tôi sẽ không tuôn ra lắm lời thế nếu tôi biết trước được ông toán trưởng sẽ nổi đóa lên như vậy. Ông tớỉ tấp bắn vào tôi đủ thứ lư lẽ làm ù tai, mờ mắt, đầu óc rối mù như lạc vào rừng chằng chịt giây nhợ, kín mít không lối ra và tôi chỉ c̣n biết rũ đầu xuống, không hé răng căi nổi lấy một lời.
Đúng lúc đó, thằng học giả đang ngồi lơ mơ ngủ gật, bỗng choàng dậy hét to:
“úi con lợn...”
Trừ ông toán trưởng, tất cả bọn tôi đều bật dậy như ngồi phải lá han. Chao ôi những tảng thịt luộc thái dày bản, những khúc dồi thơm phức nướng trên lửa... tiếng gọi của chúng cuốn phăng bọn tôi đi, thằng cầm dao, thằng cầm gậy, thằng cầm súng ào ào đuổi theo con lợn rừng hung dữ, giết chết bằng được, mổ thịt ngav lập tức và ngốn ngấu ăn tại chỗ. Thằng học giả sính chử nghĩa nhường cho nó trọn bộ óc, thằng hộ pháp dũng cảm đập gậïy vào đầu con lợn thưởng cho nó buồng gan, tôi được quả tim v́ đă tỏ vẻ xót thương con lợn bị băm vằm mổ xẻ, c̣n thằng cấp dưỡng chạy sau cùng bị phạt phải ăn khấu đuôi. Bọn tôi vừa đốt lửa đùng đùng nấu nước cạo lông vừa om ṣm bàn tán.
Thằng hộ pháp chợt nhớ:
“Thế c̣n ông toán trưởng? Giành cho bố cái ǵ đây?”
Tôi chưa kịp nghĩ, thằng học giả đă nhanh nhẩu:
“Luộc cho thủ trưởng cái lưỡi. Tốùi nay ông uốn rất giỏi, uốn đằng nào cũng được...”.
Quả thật chưa bao giờ bọn tôi được một bữa no ăn no cười đến thế. Thịt nướng, thịt luộc cứ cầm cả tảng mà ngoạm cho dù ông toán trưởng đă lệnh cho thằng cấp dưỡơng phải kho mặn một nồi thật to ăn dần.
Đêm đó có lẽ cái dạ dày c̣m cơi lâu này mới được nhận một lượng đạm động vật lớn đột ngột đến vậy, nên trằn trọc măi trên vơng, bọn tôi chẳng đứa nào ngủ được, trừ mỗi thằng cấp dưỡng đă ngáy kḥ kḥ. Thằng học giả vùng dậy trước tiên:
“Khó ngủ quá, dậy đi chúng mày”
Tôi tḥ đầu ra khỏi vơng kêu lên:
“Lạ nhỉ, đói rét mất ngủ đă đành, no ứ bụng mà cũng không ngủ được th́ là sao?”
Thằng hộ pháp nhảy trên vơng xuống g iải thích:
“Th́ tại cái của mày dậm dật chứ sao”.
“Đúng đấy, đúng đấy, thảo nào tao nhắm mắt măi chả ngủ được. Mang dao ra chặt mẹ nó đi là yên chuyện”.
Thằng học giả cười thích chí và cũng xen vào ngồi bên đống lửa. Cả bọn tôi có lẽ đều ai chưa biết chuyện đó, may ra có thằng học giả đọc được nó trong sách. Bởi vậy chẳng chờ tôi đ̣i, nó cất giọng giảng giải:
“ Chúng mày không ngủ được là đúng thôi. T́nh dục là nền tảng cho các hoạt động của con người. Bởi thế “cái đó” mới nằm bên dưới cái đầu. Nó thuộc hạ tầng cơ sở nhưng lại chi phối chặt chẽ thượng tầng kiến trúc. Cho nên chúng mày thửù ra lệnh cho nó rụt lại xem có được không? Không được...”
Thằng hộ pháp sốt ruột cắt ngang:
“Ôi thôi, mày nói lủng củng thế, bố tao cũng chả hiểu. Vứt mẹ sách đi, tao chỉ muốn hỏi mày ví thử ngay bây giờ có một đứa con gái đẹp như tiên ngồi đây th́ mày sẽ làm ǵ trước tiên...”
Thằng học giả ngớ ra, cười lúng búng, hóa ra cu cậu chỉ lư thuyết sách vở thôi, đi vào thực tế, cũng chẳng hơn ǵ bọn tôi. Tôi đỡ lời cho nó:
“Nhưng trước hết phải hỏi cô ta có yêu ḿnh không đă.....”
Thằng họ giả gật lấy gật để:
“Đúng, đúng, nếu đă yêu nhau ấy à, cứ gọi là nắm vào tay nhau cũng đủ run bắn lên rồi”.
“Nói phét, chúng mày chỉ được cái nói phét theo sách thôi. Giờ ví thử đứa có con gái ngồi đây, chúng mày lại không nhảy xổ đến như lũ chó đói ấy ư?!”
Rồi thằng hộ pháp bắt đầu diễn tả bằng lời cái cuộc làm t́nh tương tượng của nó làm tôi cứ há hốc mồm ra nghe chẳng khác ǵ bữa tiệc giả tưởng “ Ở cửa hàng đặc sản “ mà thằng học giả thết tôi tối hôm nào.
Tuy nhiên những điều mô tả của nó cụ thể và chi tiết đến độ sau khi nó dứt lời, tôi phải hỏi nó:
“Mày ngủ với đàn bà rồi phải không?”
Nó toét miệng ra cười:
“Nếu không th́ việc ǵ tao phải đâm đầu lên cái xó rừng này. Mày cứ thử sờ coi gân bắp tao thế này th́ đàn bà con gái xóm tao đời nào chịu để tao yên. Cô giáo có nhé, cô đội trưởng sản xuất có nhé, rồi cả cô sư phá giới nữa...”
Nó bấm đốt ngón tay thống kê cái thành tích oai hùng của nó một cách đắc chí rồi thở dài đánh sượt:
“Con vợ thằng xă đội nó giết tao. Ai lại giữa ban ngày ban mặt, đang cấy lúa ngoài ruộng, thấy tao nghễu nghện đi qua, cứ nằng nặc co kéo về nhà nhờ khiêng cái cối đá. Tao biết tỏng gan ruột con này rồi, chồng nó mới đi tập huấn dài ngày trên huyện mà. Ban đầu tao nghĩ bụng thôi, chả dại ǵ dây vào vợ ông lớn. Ấy thế rồi trong lúc khiêng cối đá, chẳng hiểu sao hai cái vú thây lẩy của nó lại trật ra, chọc vào mắt tao. Tao đành quẳng mẹ nó cối, khiêng ngay con mẹ ấy lên giường. ôi chao ơi, c̣n đang nồng nỗng như hai con lợn cạo th́ thằng chồng ở đâu lù lù xách súng về, tao phải đạp cửa số, nhảy cả xuống ao, bỏ làng mà chạy. Thoát chết rồi tao mới dông một mạch lên rừng, cách xa bọn đàn bà ra, khuất mắt trông coi vậy mới yên thân.”
Tôi ôm bụng cười ràn cả nước mắt. Riêng thằng học giả không những không cười, mặt nó c̣n hầm hầm, buồn chảy ra như bánh đa dúng nước. Thằng này lại lên cơn t́nh si tưởng nhớ cô nàng búp bê, láng giềng nhà nó đấy. Th́ ra mới chỉ thêm có mấy miếng thịt lợn vào dạ dày mà thằng nào thằng ấy cứ như là động dại cả. Cứ liên tục tối nào cũng thế th́ rồi không khéo tiêu tan cả ư chí chiến đấu vượt mọi gian khổ chiếm lĩnh đỉnh cao. Ông toán trưởng quả là rất sáng suốt khi quy định hai bữa ăn hàng ngày của chúng tôi chỉ có cơm với tép khô nấu rau rừng...


Năm


Một sự lạ xảy ra trong cái nếp sinh hoạt thường ngày vốn dĩ quay đều như kim đồng hồ: hôm nay ông trưởng toán cho chúng tôi được nghỉ. Thằng hộ pháp sướng quá nhẩy cẫng lên cười hềnh hệch:
“Tại cái vách đá đấy. Ôâng toán trưởng hướng địa bàn thế nào đâm mẹ nó vào chỗ đó đào sao được thành đường. Phen này cánh ḿnh tha hồ ngồi chơi sơi nước”.
Thàng học giả tỏ ra hiểu biết:
“Mày đừng trách oan ông toán trưởng, ông ấy lấy hướng địa bàn không sai đâu. Lỗi tại mấy ông trên Ban chỉ huy, cứ ngồi bàn giấy vạch đường trên bản đồ rồi bắt con người ta lần ra bằng được. Ngờ đâu bản đồ đi một đằng, thực địa nó lại khác. Ở các nước văn minh người ta thăm ḍ khảo sát bằng máy bay, cứ ngồi trong pḥng kín, bấm nút truyền số liệu về trung tâm thôi, chả cái xứ nào phải ṃ mẫm bằng con dao phát rừng như tụi ḿnh”.
Tôi chợt nhớ những điều ông toán trưởng hứa hẹn vơi tôi, ông bảo nước ḿnh cũng đă cử người sang các nước bạn học nghề khảo sát bằng hàng không, tôi cứ cố gắng lên, dăm năm nữa ông sẽ đề nghị Ban chỉ huy cử tôi đi học. Thôi thôi, tôi xin nhường lại cái viên kẹo ngọt đó cho thằng học giả, tôi bảo nó:
“ Ở nước ta khối người được đi nước ngoài học cái đó rồi. Có văn hóa như mày, phấn đấu lên, mai mốt nhất định sẽ được đi...”
Nó phá ra cười:
“Mày nói như ông toán trưởng ấy. Thành phần cơ bản như thằng hộ pháp nhà quê kia c̣n chưa đến lượt, huống hồ tao con nhà tư bản”.
Giọng nó vừa chua chát vừa ngậm ngùi pha chút bất cần đời, nhưng tôi hiểu nó chẳng buông trôi cuộc sống theo kiểu “bấc đến đâu, dầu đến đấy “ như nó vẫn nói. Nó c̣n ham hố nhiều thứ lắm, bởi thế nó mới ngốn sách như vậy chứ. Nếu không, nó đă sống hồn nhiên cây cỏ như thằng hộ pháp. Thế c̣n tôi? Mọi ngày đi làm, sống ào ào theo công việc, chẳng có thời gian, hơi sức đâu mà ngẫm nghĩ, vậy nhưng chiều nay sau một ngày nghỉ ngơi đột xuất, nằm dài trên vơng ngước nh́n làn mây trắng hờ hững trôi trên trời xanh, bỗng dưng tôi cảm thấy thấp thỏm một nỗi niềm vu vơ nào đó. Tôi ra đời dưới một ngôi sao “quả tạ” chẳng thế mà ngay trước khi tôi cất tiếng khóc chào đời, bố tôi đă bỏ mẹ tôi đi biệt đâu đó chẳng ai biết để bà uất ức, ốm hậu sản mà chết khi tôi c̣n chưa dứt sữa mẹ. Tuổi thơ tôi trôi qua trong bốn bức tường cao của trại cô nhi, khi khôn lớn, tôi được chuyển qua trại thanh niên vừa học vừa làm.
Trong cái đầu bă đậu của tôi chẳng lưu giữ một h́nh ảnh nào của cái người đời gọi là t́nh mẫu tử, mái ấm gia đ́nh, có chăng chỉ là h́nh ảnh một đứa bé lấm lét như một con vật tội tội xung quanh những người đi xem vườn thú vào những ngày chủ nhật. Thế nhưng dù có là con vật đi nữa th́ cái sức sống của nó cũng dai dẳng chẳng kém ǵ con người, nhiều khi tôi cũng thấy lạ, chẳng hiểu sao tôi sống sót được cho đến tận bây giờ? “Tại mày quá khổ rồi nên không c̣n biết thế nào là khổ nữa”, thằng học giả giải thích như thế, nó c̣n bảo tôi đă sinh ra và lớn lên “dưới cấp con người”, rồi như nó sợ tôi tự ái, nó gộp luôn cả nó, cả thằng hộ pháp, cả ông toán trưởng nữa cũng đang sống “dưới cấp con người “ như thế. Tuy nhiên, những lời dài ḍng của con mọt sách ấy chỉ thoảng qua tai, chẳng chui vào đầu tôi được chút nào. Tôi cần quái ǵ ba thứ lư lẽ đó, và suy cho cùng ngoài nửa kí gạo hàng ngày đổ vào cái dạ dày cho nó co bóp, tôi chẳng c̣n cần cái ǵ hết. Và ngay cả sự nghĩ ngợi gây nên bởi cái màu xanh vời vợi của bầu trời trên đầu tôi kia, xem ra cũng chẳng là cái ǵ, quẳng béng nó đi và ngủ.
Thằng học giả đánh thức tôi dậy vào lúc tối đă lâu lắm. Nó lôi tay tôi chỉ lên trời:
“Dậy, dậy... mày có thấy cái ǵ kia không?:
Tôi ngáp, bảo nó rằng tôi chẳng thấy cái ǵ và dù có cái ǵ cũng chẳng dính dáng đến tôi, đi chỗ khác chơi cho tôi ngủ.
“Thằng ma tịt, dậy đi, trăng sáng thế kia mà ngủ như lợn tao tưởng mày cũng c̣n một quả tim chứ?
Cái thằng trí thức xó rừng này rơ rách việc, dẫu sao nó cũng làm tôi buồn cười, chợt nhớ quả tim lợn ngày trước nó thưởng cho tôi. Quả thực đêm nay trăng sáng quá, tṛn vành vạnh treo măi trên cao, tỏa xuống núi rừng một thứ ánh sáng lạnh lạnh. Tôi theo chân thằng học giả lần theo vệt ṃn lên cao lên cao măi.
Và rồi trước mắt tất cả đă nằm hết ở bên dướí kia: những chỏm núi nhọn với những bóng cây đen ś, những cánh rừng tranh nhấp nhô trải xa mênh mông, những ngọn đồi bát úp bên những khe sâu đen thẫm. Trăng tṛn và to quá khiến bầu trời như thấp hẳn xuống. Hoang vu và lạnh lẽo trườn đi theo ngọn gió tới khắp các thung sâu và các trảùng trống. Chao ôi, tưởng như cơi nhân gian đă bị xóa sạch sau một cơn hồng thủy và ở cái nơi đất trời tiếp giáp này chỉ có hai thằng chúng tôi thôi. Mỗi đứa ngồi trên một tảng đá, quay lưng lại nhau và ngợp đi trong ánh trăng trong vắt. Bỗng thằng học giả sờ tay vào người tôi th́ thào:
“Mày c̣n đó không?”
“Tao đây, mày vẫn đấy chứ?”
“Không biết, tao không biết tao là tao hay là ai nữa thế?”
Tôi im lặng nh́n theo một vệt sao đổi ngôi kéo dài trên bầu trời, biến mất vào đâu đó. Nó biến đi đâu nhỉ?.
“Này, mày ơi...”
“ Cái ǵ?
“Mày nói đi chứ, nói ǵ cũng được, nhưng mày phải nói đi.”
Tôi biết nói ǵ bây giờ? Chẳng có cái ǵ để nói trong lúc này, ngay cả ngẫm nghĩ cũng không, cứ ngồi thế này và ngồi thế này.
“Nói đi, mày nói đi...”
Vẻ vật nài, hoảng hốt của nó làm tôi đành phải nói:
“Tao vừa thấy một ông sao biến đi. “.
“Vậy có một người vừa từ giă cơi trần. “ ...
“Nó biến đi đâu? Chui vào vực thẳm hả?”
“Trong vũ trụ không có những vực thẳm nhưng có những lỗ đen.”
Thế rồi nó giảng giải chẳng cần biết tôi có hiểu hay không. Sự thực tôi chẳng nghe ǵ, kệ xác nó với các lỗ đen trên vũ trụ, tôi đang mải đuổi theo một ư nghĩ rất mơ hồ h́nh như mới nảy ra và tôi sợ rằng tôi đang mất nó.
Nó hỏi:
“Mày bảo trong con người có những lỗ đen như trong vũ trụ không?”
“Tao không biết”
“Tao cho rằng có đấy. Cái đó có thể gọi là những hố thẳm trong ḷng người.”
Tôi vùng dậy:
“Tao nghĩ ra rồi.”
“Ǵ thế? Cái ǵ thế?”
Nó cũng đứng bật dậy, hoảng hốt. Tôi nh́n gương mặt trắng bệch của nó, cười nhếch mép:
“Tao với mày đốt rừng đi.”
Nó trợn mắt lên, lắp bắp:
“Cái ǵ? Mày nói cái ǵ? “.
“Đốt rừng. Tao với mày đốt rừng chơi.”
Thằng học giả bỗng bật cười. Nó hùa ngay với tôi đi kiếm tre và lá khô. Tôi giằng lấy bao diêm run bần bật trong tay nó. Lát sau, tôi trèo lên tảng đá cao nhất, rồi xuôi theo chiều gió, tôi ném bó đuốc cháy đùng đùng vào đám cỏ tranh. Thoạt đầu ngọn lửa c̣n chới với lăm le muốn tắt, nhưng rồi gió thúc vào làm nó cuồn cuộn bốc lên, lem lém lan ra, lan ra măi. Thế rồi chẳng mấy chốc, bên phía dưới kia ngay trước mắt tôi đă là cả một biển lửa với những ngọn sóng ḥ reo đuổi nhau chạy xa tít tắp, thắp sáng rực cả một vùng trời. Tôi ngây người thán phục cái hoành tráng của quang cảnh đang diễn ra, miệng tấm tắc:
“Đẹp thật, lửa cháy đẹp thật...”
Thằng học giả nhấc bổng tôi lên quay trôn Và reo ḥ:
“Ha ha, bạo chúa Nêrông đốt thành La Mă...”

(xem tiếp)